Home Bệnh thường gặpSốt xuất huyết nên ăn gì?

Sốt xuất huyết nên ăn gì?

Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Dengue gây nên. Điều này chứng tỏ khả năng miễn dịch của cơ thể lúc đó suy yếu, nên việc bố sung dinh dưỡng qua việc ăn uống để nâng cao sức đề kháng cho bệnh nhân là rất cần thiết. Khi bị mắc bệnh, bệnh nhân sẽ xuất hiện các triệu chứng sốt cao, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn và nôn, đi ngoài, xuất huyết… nghĩa là cơ thể người bệnh bị thiếu nước và thiếu máu nghiêm trọng. Vì vậy, song song với việc điều trị bằng thuốc thì chúng ta phải có một chế độ ăn uống hợp lý, bồi phụ nước đầy đủ để giúp cho kết quả điều trị được tốt và người bệnh mau chóng hồi phục sức khỏe.

Sốt xuất huyết nên ăn gì?
Sốt xuất huyết nên ăn gì?

Vậy câu hỏi được đặt ra là: Cụ thể chúng ta nên cho bệnh nhân sốt xuất huyết ăn uống những gì để giúp họ có thể hấp thu chất dinh dưỡng dễ dàng nhất?

Và câu trả lời tốt nhất là: Đưa thực đơn ăn uống cho người bệnh theo từng giai đoạn tiến triển của bệnh sốt xuất huyết.

Diễn biến bệnh sốt xuất huyết chia làm 4 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Nung bệnh.
  • Giai đoạn 2: Khởi phát.
  • Giai đoạn 3: Toàn phát.
  • Giai đoạn 4: Lui bệnh.

1. Thời kỳ nung bệnh sốt xuất huyết nên ăn gì?

  • Kéo dài trung bình 4-10 ngày (3-15 ngày).
  • Thời kỳ này không có triệu chứng, dấu hiệu nào báo trước, người bệnh vẫn ăn uống, sinh hoạt bình thường.

2. Chế độ ăn uống trong thời kỳ khởi phát:

  • Khởi phát ngắn từ 1-3 ngày là chủ yếu:
    •      Thường là đột ngột bằng sốt cao, mạch nhanh, mệt mỏi, môi khô…
    •      Đau đầu dữ dội, đau mỏi cơ khớp, đặc biệt là cơ dép
    •      Ho khan, đau họng
    •      Ăn kém, buồn nôn hoặc nôn, đau bụng, đi ngoài lỏng…
    •      Thường chưa có xuất huyết tự nhiên.
  • Giai đoạn này bệnh nhân có sức đề kháng kém, ăn uống khó khăn, có tình trạng mất nước và điện giải nên ta cần bổ sung đầy đủ các loại dưỡng chất và bồi phụ đủ nước cho bệnh nhân:
    •      Ăn nhiều thực phẩm chứa đạm( trứng, thịt, cá, sữa…) để giúp cho bệnh nhân tăng cường dinh dưỡng.
    •      Ăn thực phẩm chứa tinh bột( gạo, đường, ngô, khoai, sắn…) để giúp cho bệnh nhân có đủ năng lượng cần cho các chuyển hóa trong cơ thể và dự trữ năng lượng.
    •      Ăn nhiều thực phẩm chứa vitamin C như nước ép rau, củ ,quả  hay các loại quả tươi ( cam, chanh, bưởi, đu đủ, cà chua,kiwi, dâu tây, nước dừa…) để nâng cao sức đề kháng cho người bệnh có thể chống lại virus gây bệnh sốt xuất huyết, tăng cường sức bền thành mạch và giảm khả năng gây xuất huyết
    •      Bồi phụ đủ nước cho bệnh nhân: cho bệnh nhân uống Oresol, pha theo đúng hướng dẫn được in trên bao bì gói, chia nhỏ lượng cho bệnh nhân uống hết trong ngày, không nên uống liền một lúc. Hay cho bệnh nhân uống nước hoa quả, nước sôi.
  • Đối với trẻ <5 tuổi cần bồi phụ 500-1500ml nước/ ngày, trẻ >5 tuổi cần 1000-2000ml nước/ ngày, với người lớn cần 1500-2500ml nước/ ngày. Cho bệnh nhân uống nước cả ngày.
  • Đối với những trường hợp bệnh nhân không ăn uống được thì bắt buộc phải bồi phụ dinh dưỡng (đạm), nước và điện giải ( Kali, Natri, Đường..) bằng đường truyền tĩnh mạch.
  • Ăn đồ ăn dễ tiêu, lỏng , mềm, chín. Hạn chế tối đa ăn các loại rau củ quả chứa nhiều chất xơ , đồ ăn xào rán, gia vị chua cay để cải thiện tiêu hóa, chống chậm tiêu hay gây rối loạn tiêu hóa thêm.
  • Giai đoạn này hạn chế tối đa ăn các đồ ăn sẫm màu, các đồ uống có màu đỏ, nâu, đen (nước ép dưa hấu, chè, cà phê, coca-cola, nước canh rau dền…) vì bệnh nhân hay bị kích thích nôn, nếu không cẩn thận, ta sẽ dễ nhầm với các trường hợp xuất huyết tiêu hóa, sẽ khiến bệnh nhân hoang mang và lo lắng về bệnh tật.

3. Chế độ ăn trong thời kỳ toàn phát:

3.1 Triệu chứng giai đoạn này:

  • Sốt cao liên tục, trung bình 4-7 ngày, có khi kéo dài 15-19 ngày, nhiệt độ liên tục cao, cũng có khi sốt dao động, khi nhiệt độ hạ có thể hạ từ từ nhưng thường là hạ đột ngột và thường kèm theo hạ huyết áp.
  • Đau mỏi toàn thân, vã mồ hôi, mệt mỏi nhiều.
  • Buồn nôn và nôn nặng nề, ăn rất kém, thường gặp đau bụng ở trẻ em, bụng chướng, ỉa lỏng…
  • Ho khan, đau họng, có thể tức ngực khó thở.
  • Các dạng xuất huyết: có thể gặp từ ngày 4-7 của bệnh. Xuất huyết thường gặp là:
    • Xuất huyết dưới da dạng: chấm nốt, lớn hơn là các đám,mảng xuất huyết.
    • Xuất huyết niêm mạc hay gặp: chảy máu cam, chảy máu chân răng…
    • Xuất huyết phủ tạng: phổ biến là xuất huyết tiêu hóa( bao gồm cả xuất huyết tiêu hóa cao, thấp), rồi đến xuất huyết tiết niệu, xuất huyết não… phụ nữ hay gặp rong kinh, rong huyết.
  • Khi mất nước, xuất huyết nhiều hoặc khi shock thường mạch nhanh,nhỏ, huyết áp tụt. Một số trường hợp có biến đổi điện tâm đồ.

3.2 Ăn uống giai đoạn này cần để ý kĩ:

  • Thể trạng bệnh nhân kém, sốt cao, mệt mỏi, nên bổ sung luân phiên thức ăn giàu protein. Thịt, cá, trứng, sữa thay đổi thường xuyên để cung cấp được nhiều chất dinh dưỡng. Ăn các loại thực phẩm chứa nhiều Vitamin A và kẽm ( thịt gà, cà chua…) để nâng cao sức đề kháng.
  • Bệnh nhân mất nước nặng nề do nôn và đi ngoài nhiều, sốt cao dài, vã nhiều mồ hôi, dễ xảy ra các biến chứng nặng nề về tim mạch( mạch nhanh, huyết áp tụt) và gây shock nên cần cho bệnh nhân uống đủ nước và truyền đủ dịch để cân bằng điện giải trong cơ thể. Oresol là thành phần thiết yếu, kèm thêm các loại nước uống trái cây, nước hoa quả ép chứa nhiều vitamin C( đã nói ở trên)  và các chất khoáng để tăng cường miễn dịch.
  • Bệnh nhân bị xuất huyết, có dấu hiệu mất máu, giảm tiểu cầu, thiếu máu nhiều nên ăn nhiều loại thức ăn chứa nhiều sắt và acid folic như: thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm, cá, mầm lúa mì, trứng, ngũ cốc bổ sung sắt…để bù lại lượng máu đã mất, giúp cho thể trạng bệnh nhân mau chóng hồi phục hơn. Ngoài ra có thể cho bệnh nhân uống nước cỏ nhọ nồi kết hợp để nâng cao tác dụng cầm máu, làm giảm quá trình xuất huyết nặng nề thêm, hạn chế tối đa biến chứng do mất máu gây nên.
  • Ăn đồ ăn nấu chín, mềm, lỏng, dễ tiêu hóa, chia nhỏ bữa ăn ra cả ngày:
    • Ăn cháo: cháo loãng, dễ tiêu, dễ kết hợp các loại thực phẩm để nấu.
    • Súp: giúp người bệnh cải thiện vị giác, ăn cũng dễ dàng hơn, dễ kích thích cơn đói và cảm giác thèm ăn.
  • Không ăn thức ăn nhiều dầu mỡ như thực phẩm nhiều tinh dầu( đậu, lạc, vừng…) hay đồ chiên rán để tránh trường hợp giảm hấp thu và chậm tiêu ở bệnh nhân sốt xuất huyết.

4. Chế độ ăn của thời kỳ hồi phục:

  • Thời kỳ này ở cả bệnh nhân sốt xuất huyết có shock hay không có shock đều diễn ra nhanh chóng:
    • Bệnh nhân đã cắt sốt.
    • Ăn ngon miệng và thèm ăn là tiên lượng tốt.
    • Trong giai đoạn này có thể gặp nhịp tim chậm hoặc loạn nhịp xoang thì đều sẽ khỏi sau vài ngày.
  • Ăn uống đầy đủ tất cả các loại thức ăn đã kể trên, kể cả những loại hạn chế dùng.
    • Người bệnh bắt đầu ăn tốt nên tích cực khuyến khích người bệnh ăn uống.
    • Mỗi ngày nên uống 2-3 cốc sữa phân đều theo buổi trong ngày để nâng cao sức khỏe.
    • Cho người bệnh dùng thêm các loại thức ăn chứa Vitamin A,C,P  hay là thuốc bổ loại này để tăng cường thêm sức đề kháng.
    • Có thể cho bệnh nhân uống thêm thuốc bổ chứa sắt để nhanh chóng phục hồi các triệu chứng vì mất máu gây nên( đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, thể trạng suy nhược…).
    • Uống nước đầy đủ để cân bằng lại nước và điện giải trong cơ thể.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *